Thứ ba, 25/11/2014 04:04

Nhân mùa cưới, nói chuyện lai lịch chữ Song Hỷ

                        NHÂN MÙA CƯỚI NÓI CHUYỆN LAI LỊCH CHỮ " SONG HỈ "                                             

                                                                                                                    

                                                                                                              PGS.TS. Lê Xuân Thại

 

          Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc, trong các phòng cưới, người ta thường trang trí chữ song hỉ. Hỉ có nghĩa là "mừng vui". Chữ song hỉ do hai chữ hỉ ghép lại. Chữ song hỉ bắt nguồn từ một câu chuyện truyền thuyết dân gian sau đây.

 

          Vương An Thạch (tể tướng, nhà biến pháp nổi tiếng) thời Bắc Tống, 23 tuổi, về kinh dự thi. Ở Biện Kinh (vùng Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc bây giờ) đi qua nhà viên ngoại họ Mã thấy dán ở cổng một câu đối: "Ngọc đế hành binh, phong thương vũ tiễn, lôi kì thiềm cổ, thiên tác chứng". Câu này có nghĩa là: "Ngọc đế hành binh, giáo tên (ào ào) như gió như mưa, cờ mở trống giong (ầm ầm) như sấm như sét, trời làm chứng". Vương An Thạch đọc vế câu đối liền vỗ tay: "đối được, đối được". Một gia đình viên ngoại họ Mã thấy vậy liền chắp tay mà rằng: "Câu đối đã ra mấy tháng nay mà chẳng ai đối được. Bây giờ nếu cậu đối được để tôi bẩm ông chủ cầu kiến cậu". Vì ngày mai đã vào thi nên Vương An Thạch phải đi gấp đến nhà người cậu ruột, không chờ gia đình nhà viên ngoại trở lại. Ngày hôm sau, ở trường thi, Vương trổ tài nhả ngọc phun châu, quan chủ khảo thấy Vương vẫn còn trẻ tuổi mà tài hoa xuất chúng, liền truyền Vương đối diện khẩu thí. Chủ khảo chỉ vào một lá cờ có thêu con rồng bay rồi đọc một câu bắt Vương đối:

 

          "Long vương thiết yến, nguyệt chúc tinh đăng, sơn thực hải tửu, địa vi môi". Câu này có nghĩa là: Long vương thiết tiệc, đuốc đèn (sáng) như trăng như sao, cỗ, rượu (nhiều) như núi như biển, đất làm mối. Vương An Thạch nhớ đến câu đối đã ra ở nhà Mã viên ngoại, đem đối với câu này thì rất chỉnh, bèn ứng khẩu đối ngay khiến quan chủ khảo vô cùng vui sướng. Vương thi xong, trở về nhà ông cậu thì đã thấy gia đình Mã viên ngoại chờ sẵn cung kính mời Vương đến nhà. Viên ngoại gặp Vương liền mang bút mực ra mời Vương đối. Vương vung bút viết ngay câu của quan chủ khảo để đối lại. Mã viên ngoại cả mừng, sai a hoàn chuyển vế câu đối của Vương cho con gái xem. Cô gái xem xong thấy đối rất chỉnh, chữ viết lại rồng bay phượng múa liền đỏ mặt e thẹn tỏ ý ưng thuận. Mã viên ngoại vui mừng nói với Vương An Thạch: "Câu đối này con gái độc nhất của tôi ra để kén chồng, treo đã nửa năm mà không ai đối được, nay Vương tướng công đối được có thể nói là trời đã tác hợp". Mã viên ngoại lập tức chọn ngày lành tháng tốt, sau ba ngày sẽ thành hôn. Ngày thứ ba là ngày cưới bỗng ở ngoài cổng người reo ngựa hí, có hai người bước đến báo tin vui: "Vương đại nhân quan tinh cao chiếu, kim bảng đề danh, đỗ đầu trạng nguyên. Hoàng thượng triệu kiến, xin mời ngày mai vào kinh dự tiệc". Trống kèn dậy đất, pháo mừng nổ ran, Vương An Thạch vái lạy trời đất rồi vào động phòng. Cô dâu thủ thỉ: "Vương lang tài cao học rộng, nhất cử thành danh, đêm nay lại động phòng hoa chúc, thật là đại đăng khoa và tiểu đăng khoa, song hỉ laammoon". Vương nghe xong cả cười kể lại câu chuyện và nói:"Đây là nhờ em viết ra câu đối hay chứ đâu phải công của anh". Nói đoạn Vương cầm bút viết lên tờ giấy hồng chữ song hỉ và ngâm nga một bài thơ:

 

Xảo đối liên thành hồng song hỉ, thiên môi địa chứng kết ti la

Kim bảng đề danh động phòng dạ, tiểu đăng khoa dữ đại đăng khoa

 

Có nghĩa là:

Câu đối khéo thành hồng song hỉ (hai niềm vui), trời làm mối đất làm chứng kết tơ duyên.

Bảng vàng có tên, đêm động phòng, tiểu đăng khoa và đại đăng khoa.

 

Từ đó về sau hình thành tục dán chữ song hỉ ở các phòng cưới.

 

          Lai lịch chữ song hỉ  là như vậy. Nhân đây xin nói thêm về cách dán chữ song hỉ lên tường. Cách đây đã lâu, tôi đến dự một đám cưới, thấy có một chữ song hỉ dán ngược. Tôi nghĩ lỗi này là do người trang trí không biết chữ Hán gây ra. Sau này đọc sách của Trung Quốc tôi mới biết hóa ra ở Trung Quốc có những vùng như Sơn Đông người ta cố ý dán ngược chữ song hỉ lên tường. Có tập tục này là so hiện tượng đồng âm trong tiếng địa phương vùng này. Trong tiếng địa phương Sơn Đông chữ đảo (có nghĩa là ngược) đồng âm với chữ đáo (có nghĩa là đến, tới). Chữ song hỉ dán ngược tức là song hỉ đáo có nghĩa là niềm vui to lớn (hạnh phúc) đã đến. Tập tục dán ngược này không chỉ đối với chữ song hỉ mà cả đối với những chữ khác. Ngày lễ, ngày tết, người ta dán ngược chữ phúc với ý là phúc tới nhà. Tú Xương có câu:

 

                             Tối ba mươi, co cẳng đạp thằng Bần ra  cửa

                             Sáng mồng một, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà

 

     Các nhà buôn ở vùng này dán ngược chữ tài (tiền của) với ý nguyện cầu mong làm ăn phát tài, tiền vào như nước.

     Dán ngược chữ song hỉ là một tập tục ở một số địa phương Trung Quốc. Còn ở Việt Nam không có tập tục đó, xin đừng dán ngược chữ song hỉ!

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

          Khúc Ngạn Bân (chủ biên), Trung Quốc dân tộc ngôn ngữ học, Nxb Văn nghệ Thượng Hải, Thượng Hải, 1996.

 

                                                              (Bài đã được đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 12 năm 2003)

Print

Gửi bình luận của bạn

Họ và tên (*) Email
Mã bảo vệ (*)
Nội dung (*)

Xem lời bình

Trang chủ | Giới thiệu | Thông báo | Tin tức | Chương trình | Dạy và học tiếng | Văn hóa & Ngôn ngữ | Thư mục chọn lọc | Giải trí | DV | Thư viện ảnh | Liên hệ | Diễn đàn