Thứ hai, 28/07/2014 08:16

Tìm hiểu nghĩa của yếu tố Hán Việt trong các từ: áp dụng, bảo hành, bị vong lục, bức xúc, đắc tội,…

                                                                                                                           PGS.TS Lê Xuân Thại

 

ÁP DỤNG

Trong tiếng Hán hiện đại không thấy có từ áp dụng. Áp dụng dịch sang tiếng Hán và vận dụng hoặc lợi dụng. Áp trong tiếng Hán vốn có nghĩa là "đè, ép" nhưng đây không phải là nghĩa của áp trong áp dụng. Áp trong áp dụng có nghĩa là "cho sát vào", "đưa vào" hoặc "tiếp cận". Dụng có nghĩa là "đem dùng vào thực tế điều đã nhận thức được". Áp dụng kinh nghiệm tiên tiến, áp dụng khoa học kỹ thuật và sản xuất (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên).

 

BẢO HÀNH

Trong tiếng Hán hiện đại không có từ bảo hành. Với nghĩa "bảo hành" trong tiếng Việt, tiếng Hán gọi là bảo tu tức là "bảo đảm sửa chữa" (tu  có nghĩa là "sửa chữa"). Tham khảo Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh thấy có một nghĩa của hành phù hợp với nghĩa của từ bảo hành. Hành có nghĩa là "việc đem dùng". "Việc đem dùng" theo cách nói thông thường hiện nay là "việc sử dụng". Như vậy, bảo hành tức là "bảo đảm việc sử dụng sản phẩm". Nói như vậy có hàm ý là bảo đảm nếu hư hỏng thì sửa chữa để sử dụng được (tất nhiên là có thời hạn).

 

BỊ VONG LỤC

Bị vong lục là văn bản ngoại giao do chính phủ hay bộ ngoại giao công bố, trình bày lại một cách có hệ thống lịch sử của một vấn đề để tranh thủ dư luận. (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên). Định nghĩa như thế là khá rõ. Nhưng tại sao lại gọi là bị vong lục. Bị ở đây không có nghĩa là "bị động" mà có nghĩa là "phòng bị", "đề phòng". Vong là "quên". Lục là "ghi lại".

 

BỨC XÚC

Bức xúc là một từ ngày nay được dùng nhiều trên sách báo và trong cuộc sống thường ngày. Trước đây vì chưa dùng hoặc là rất ít dùng nên không thấy có mặt trong các cuốn từ điển tiếng Việt. Trong Từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh thấy có từ xúc bức chứ không thấy có từ bức xúc. Nếu như trong tiếng Việt, từ bức xúc từ chỗ chưa dùng hoặc ít dùng tiến đến việc sử dụng nhiều như hiện nay thì trong tiếng Hán lại có hiện tượng ngược lại. Từ bức xúc được dùng từ thời xưa nhưng hiện nay không thấy có mặt trong các cuốn từ điển tiếng Hán hiện đại. Bức (…) ở đây có nghĩa là "bắt buộc phải", còn chữ  xúc ở đây chữ Hán viết là (…) có nghĩa là "thúc đẩy". Nó không phải là chữ (…) cảm xúc như cách viết trong Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển. Lúc đầu, vào tiếng Việt bức xúc chỉ có nghĩa tính từ là "cấp bách lắm", "yêu cầu phải được giải quyết ngay" như định nghĩa của "từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên. Thí dụ: Một nhiệm vụ bức xúc. Vấn đề bức xúc. Về sau bức xúc từ nghĩa tính từ phái sinh thêm nghĩa động từ. Cảm thấy cấp bách, cần phải giải quyết ngay. Thí dụ: Sinh viên rất bức xúc trước thái độ quan liêu, hách dịch của ông hiệu trưởng.

Có lẽ bức xúc ở đây chỉ một loại cảm giác nên tác giả quyển Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển đã đổi chữ (…) thành chữ (…). Theo chúng tôi thì trong trường hợp này, từ phái sinh thêm nghĩa mới, nhưng nghĩa của yếu tố thì vẫn là một.

 

ĐẮC TỘI

Tội thì dễ hiểu. Nhưng đắc nghĩa là gì? Tại sao lại là đắc? Đắc có nghĩa là "được", "nhận được", "thu được" (một cái gì đó hoặc một kết quả nào đó). "Được, nhận được, thu được" hàm nghĩa "có". Chính vì thế mà Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa đắc tội là "có tội lớn với ai". Đắc tội với tổi tiên. Còn Từ điển Hán ngữ hiện đại thì định nghĩa đắc tội là "làm cho người khác không vui, hoặc căm giận". Cách diễn đạt của 2 định nghĩa này có khác nhau nhưng thực chất là một.

ĐỀ HUỀ

Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du tả Kim Trọng trong cuộc chơi xuân có câu:

Đề huề lưng túi gió trăng

Sau chân theo một vài thằng con con

Trong tiếng Hán, đề có nghĩa là "mang" hoặc "xách", huề có nghĩa là "cầm" hoặc "dắt tay". "Lưng túi gió trăng"chỉ cái túi thơ của người văn sỹ, người học trò. Ý nói: "đựng gió trăng (thơ) ở trong" (chú giải của Đào Duy Anh). Trong tiếng Hán, đề huề có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là "dắt con đi, vì sự dìu dắt hậu thế". Nghĩa thứ hai là "bắt tay hợp tác". Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) thì đề huề và "đông đủ" và "vui vẻ", "hòa thuận". Vợ chồng con cái đề huề. Theo tôi có lẽ từ hình ảnh nắm tay nhau, vui vẻ, sum vầy đã phái sinh ra nghĩa này trong tiếng Việt.

 

ĐỘT NGỘT

Trong tiếng Hán, đột ngột có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là "cao chót vót". Thí dụ: đột ngột đích sơn thạch (núi đá cao chót vót). Trường hợp này, đột có nghĩa là "cao hơn xung quanh". Ngột có nghĩa là "nhô lên". Đột ngột trong tiếng Việt không có nghĩa này. Nghĩa thứ hai là "xảy ra bất ngờ". Nghĩa này được tiếp nhận trong tiếng Việt. Trường hợp này, đột có nghĩa là "hết sức nhanh, bất ngờ". Ngột vốn có nghĩa là "nhô lên". Theo tôi, hiện tượng nhô lên do sự liên tưởng mà tạo thêm nét nghĩa "xảy ra".

 

HOA TIÊU

Trong tiếng Hán không có từ hoa tiêu mà có từ đăng tiêu (…). Tiêu ở đây có nghĩa là "cái làm hiệu, cái ra hiệu". Đăng là "đèn". Ngày xưa người ta dùng đèn làm dụng cụ điều khiển trong hàng hải. Hoa trong hoa tiêu của tiếng Việt có nghĩa là "ngọn lửa trong đèn". Lửa hay đèn đều có chung một tính chất là phát ra ánh sáng. Trong tiếng Việt ngày nay, hoa tiêu từ nghĩa công cụ chuyển sang chỉ người am hiểu tình hình, điều kiện đường thủy và đường không, giúp cho việc điều khiển tàu bè, máy bai hoạt động an toàn.

 

LÍ SỰ

Trong tiếng Hán, lí sự có nghĩa là "xử lý, giải quyết công việc". có nghĩa là "làm", tức là "xử lí, giải quyết". Sự là "công việc". Lí sự trong tiếng Việt có nghĩa hoàn toàn khác. Lí sự với nghĩa danh từ là "lí lẽ" đưa ra chỉ cốt để tranh cãi. Giơ lí sự ra với nhau làm gì với nghĩa động từ là "nói lí, nói lẽ" chỉ cốt để cãi. Thôi đừng lí sự nữa (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên). Như vậy, trong lí sự tiếng Việt có nghĩa là "lí lẽ". Sự có nghĩa là "sự việc".

 

MIÊN MAN

Có từ điển giải thích miên là "dài". Giải thích như thế không được chính xác lắm. Miên nghĩa gốc là "tơ tằm". Về sau phái sinh nghĩa mới là "kéo dài". Từu điển từ và nghĩa tiếng Việt của Nguyễn Lân giải thích man ở đây có nghĩa là "nước tràn ra". Giải thích như thế là sai. Mạn mới có nghĩa là "nước tràn ra". Còn man thì nghĩa là (cây hoặc cành cây) bò lan ra. Từ hai nét nghĩa cụ thể này, theo lối ẩn dụ, miên man có nghĩa là hết cái này đến cái khác, tiếp liền nhau không đứt". Suy nghĩ miên man. Công việc miên man. (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên).

 

 

       TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Đào Duy Anh, Từ điển Hán - Việt, Nxb KHXH, Tp. Hồ Chí Minh, 2001

2. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 2000.

3. Phòng biên tập từ điển, Sở nghiên cứu ngôn ngữ, Viện KHXH Trung Quốc, Từ điển Hán ngữ hiện đại, Thương vụ ấn thư quán, Bắc kinh, 2006.

4. Tân Hoa tự điển, Thương vụ ấn thư quán, Bắc kinh, 1996.

5. Nhiêu Kiệt Đằng (chủ biên), Từ điển văn ngôn thường dùng, Nxb ĐHSP Thủ Đô, Bắc Kinh, 2004.

6. Cốc Diễn Khuê, Hán tự nguyên lưu từ điển. Nxb Hoa Hạ, Bắc Kinh, 2004.

 

 

Nguồn: Tạp chí Ngôn ngữ số 12/2009

 

Print

Gửi bình luận của bạn

Họ và tên (*) Email
Mã bảo vệ (*)
Nội dung (*)

Xem lời bình

1

nguyễn thị hiếu

Tôi muốn hỏi chính xác nghĩa Hán - Việt của từ "Dủ hậu" và câu "Quang tiền Dủ hậu" là gì ? Xin cảm ơn!

2

Violet

Toi can dịch 郭米功 nghĩa tieng Vietnam La gi?

Trang chủ | Giới thiệu | Thông báo | Tin tức | Chương trình | Dạy và học tiếng | Văn hóa & Ngôn ngữ | Thư mục chọn lọc | Giải trí | DV | Thư viện ảnh | Liên hệ | Diễn đàn