Thứ năm, 24/04/2014 05:22

Về các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt: Nhìn từ góc độ nhận thức và bản thể (Phần 3)

 

                         

VỀ CÁC  PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO TỪ  TRONG TIẾNG VIỆT

            NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NHẬN THỨC VÀ BẢN THỂ  (Phần 3)

                                                                                

                                                                                          GS.TS Nguyễn Đức Tồn

 

 

 

 

       Khác với Giáo sư Tomita Kenji chỉ thấy hiện tượng biến âm như trên xảy ra trong các ngôn ngữ đơn lập [42,tr.29], chúng tôi nhận thấy rằng trên thực tế hiện tượng biến âm để tạo từ mới này còn xảy ra cả trong các ngôn ngữ biến hình như tiếng Nga chẳng hạn. Chính viện sĩ Iu. X. Xtepanốp đã chỉ ra hiện tượng này: "Sự biến dạng vỏ ngữ âm của từ (...) có một giới hạn là từ đồng nghĩa (...). Một từ phát âm hai cách khác nhau tạo thành hai biến thể ngữ âm của một từ, ví dụ: ýíåðãèÿ (í cứng ) và ýíüåðãèÿ (í mềm ) (năng lượng); êðûíêà - êðèíêà (vò đựng sữa); êàëîøè - ãàëîøè (đôi giày cao su) v.v. Nhưng mấy cặp biến thể này không có một sự khác nhau nào về ý nghĩa, dù rất nhỏ. Những biến thể phức tạp hơn xuất hiện (...). Ở đây đôi khi đã có thể nhận thấy sự khác nhau chút ít về ý nghĩa nhưng còn mơ hồ; đến nỗi khó có thể giải thích thành luật lệ rõ ràng mà chỉ có thể nói là biến thể này thường kết hợp với từ này, còn biến thể kia thì thường kết hợp với từ khác (...). Song trong ngôn ngữ có một khuynh hướng là không bỏ rơi những khả năng có sẵn mà chưa được sử dụng: nếu đã tạo ra hai biến thể khác nhau của từ thì, thường thường, chúng có ý nghĩa khác nhau, mặc dù sự khác nhau về ý nghĩa này dường như chỉ là một tiểu dị. Ở  đây sự thay đổi của từ đã đến giới hạn: một bước nữa là trước mắt chúng ta không phải là biến thể của từ mà là một từ mới, từ đồng nghĩa với từ cũ (chỗ nhấn mạnh là của chúng tôi - NĐT). Chẳng hạn:   àíàíàñíûé và  àíàíàñîâûé  ([thuộc về, bằng] dứa) là những biến thể, còn âåðõèé  (trên, ở trên cao, trên cùng...) và âåðõîâíûé(tối cao) (*) l à những từ đồng nghĩa cách nhau đã xa (...)" [50,tr.42].Do vậy, cần phải khẳng định rằng sự chuyển âm hay biến âm kết hợp với biến nghĩa để tạo từ mới cũng là một phương thức cấu tạo từ mang tính phổ quát, cần phải được bổ sung vào lý luận đại cương về các phương thức tạo từ. Chỉ có điều phương thức ấy có tính chất đặc biệt, đóng vai trò và có sức sản sinh không như nhau tuỳ từng ngôn ngữ cụ thể thuộc loại hình khác nhau. Có thể thấy trong những ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt, số lượng vỏ ngữ âm tạo từ rất hạn chế, lại vừa bị bó chặt trong cấu trúc âm tiết nhất định, còn trong ngôn ngữ biến hình thì vỏ ngữ âm của từ có số lượng lớn hơn và cơ động hơn rất nhiều. Cũng lại chính vì có số lượng vỏ âm lớn như vậy mà các ngôn ngữ Ấn-Âu mới biến hình từ được. Cho nên, có lẽ phương thức chuyển âm hay biến âm để tạo ra các từ mới trong các ngôn ngữ đơn lập đóng vai trò quan trọng hơn so với trong những ngôn ngữ biến hình, tương tự như phương thức phụ gia có vai trò cực kỳ quan trọng trong ngôn ngữ biến hình mà lại không có ở tiếng Việt - một trong những ngôn ngữ đơn lập.

 

        Ngoài hai phương thức cơ bản nói trên, tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác, đặc biệt là các ngôn ngữ có loại hình đơn lập như tiếng Việt, còn có phương thức tạo từ nữa là phương thức chuyển loại, nghĩa là giữ nguyên vỏ ngữ âm của từ, song từ đã có ý nghĩa của một từ loại khác theo cơ chế chuyển nghĩa thường là theo hoán dụ. Ví dụ: cày, bừa, cào, cưa, đục,…(danh từ)-> cày, bừa, cào, cưa, đục,…(động từ).

 

 

      4.  Như vậy trong tiếng Việt chỉ có các phương thức cấu tạo từ sau: phương thức chuyển âm hay biến âm, phương thức chuyển loại - tương tự như hình thức sinh sản vô tính, và phương thức ghép tương tự như phương thức sinh sản hữu tính trong sinh vật học. Tiếng Việt không có cái gọi là “phương thức từ hoá hình vị”. Còn  phương thức láy chỉ để tạo ra các dạng láy lâm thời của từ với quy tắc hoà phối ngữ âm chặt chẽ bằng sự chuyển đổi giữa các phụ âm cuối của các âm tiết:  p->m; t->n; k-> ng, và các thanh điệu cùng âm vực chuyển hoá lẫn nhau: âm vực cao: ngang, hỏi, sắc; âm vực thấp: huyền , ngã, nặng. Ý nghĩa của các dạng láy của từ được sắc thái hoá theo hướng giảm nhẹ hoặc tăng cường so với nghĩa của yếu tố gốc. Do đó có thể khẳng định tiếng Việt cũng không có phương thức cấu tạo từ láy, nghĩa là tiếng Việt không có từ láy. Hoàng Dũng theo cách tiếp cận và lập luận khác với chúng tôi cũng đã đi đến kết luận:"Tiếng Việt không có từ láy"[13,tr.44]. Các kết hợp song tiết xưa nay bị lầm tưởng là từ láy toàn bộ chẳng qua là sản phẩm của phương thức lặp ngữ pháp biểu hiện ý nghĩa số nhiều, hoặc ý nghĩa “ lặp đi lặp lại có tính chất chu kì hay liên tục”. Còn các kết hợp song tiết xưa nay bị lầm tưởng là từ láy âm hoặc từ láy vần thì chẳng qua chỉ là sản phẩm của phương thức ghép theo quan hệ đẳng lập các âm tiết hoặc có quan hệ ngữ âm ngẫu nhiên, hoặc do đồng hoá  ngữ âm mà có, hoặc do cấu tạo từ theo lối ghép loại suy, hoặc là do ghép đẳng lập hai biến thể ngữ âm của cùng một âm tiết gốc. Ở đây một lần nữa chúng ta lại nhận thấy sự lẫn lộn giữa hai bình diện nhận thức và bản thể, lẫn lộn giữa hiện tượng và bản chất khi nhận diện đặc điểm cấu tạo của từ ngữ tiếng Việt ./.

 

 

 

(*) Trong bản dịch từ này được ghi là âåðõîâîé , (I. Thuộc về cưỡi ngựa; II. Người cưỡii ngựa). Chúng tôi nghĩ có sự lầm lẫn ở đây.

 

 

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn GS.TS Trần Trí Dõi đã cung cấp thêm cho chúng tôi một số cứ liệu về diễn biến ngữ âm học lịch sử trong tiếng Việt cổ .

 

 

 

                                           TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN

 

 

 

I. Tiếng Việt

1.Võ Bình, Ở  bình diện cấu tạo từ xét các kiểu hình vị tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, số 3, 1985.

2.Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt - Tiếng - Từ ghép - Đoản ngữ, Nxb ĐH và THCN, H., 1975.

3.Nguyễn Tài Cẩn, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán - Việt, Nxb KHXH, H., 1979.

4.Đỗ Hữu Châu, Giáo trình Việt ngữ, Tập II (Từ hội học), NXB GD, H., 1962.

5.Đỗ Hữu Châu, Trường từ vựng và hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa, Ngôn ngữ, số 4/1973.

6.Đỗ Hữu Châu, Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD, H., 1981(tái bản 1996).

7. Đỗ Hữu Châu, Các bình diện của từ và từ  tiếng Việt, Nxb KHXH, H., 1986.

8. Đỗ Hữu Châu, Đại cương ngôn ngữ học, Tập II (Ngữ dụng học), Nxb GD, H.,2001.

9. Nguyễn Hiệt Chi – Lê Thước, Sách mẹo tiếng Nam, Lê Văn Tân xuất bản, H. 1935.

10.Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb ĐH & GDCN, H.,1990. 

11.Hoàng Cao Cương, Nhận xét về một đặc điểm ngữ âm  các từ láy đôi tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, số 4, 1984.

12.Trần Trí Dõi, Một vài vấn đề nghiên cứu so sánh - lịch sử nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, Nxb ĐHQG HN, 2011.

13.Hoàng Dũng, Bàn thêm về vấn đề nhận diện từ láy tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, số 2, 1999

14.Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, Nxb ĐH và THCN, H., 1985.

15.Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học tiếng Việt, Nxb GD, H., 1998(tái bản).

16.Nguyễn Thị Thanh Hà & Lan Hương, Thủ pháp nhận diện và phân biệt từ láy với từ ghép có hình thức ngữ âm giống từ láy, T/c Ngôn ngữ, số 7,2000.

17.Nguyễn Thị Hai, Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các tiếng trong láy đôi (so sánh với ghép song song), T/c Ngôn ngữ, số 2,1988.

18.Hoàng Văn Hành, Về hiện tượng láy trong tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, số 2,1979.

19.Hoàng Văn Hành, Từ láy trong tiếng Việt, Nxb KHXH, H., 1985.

20.Hoàng Văn Hành , Từ hoá hình vị, T/c Ngôn ngữ, số 4, 1985

21.Cao Xuân Hạo, Về cương vị ngôn ngữ học của tiếng, T/c Ngôn ngữ, số2, 1985

22.Phi Tuyết Hinh, Từ láy và sự biểu trưng ngữ âm, T/c Ngôn ngữ, số 3, 1983.

23.Lê Trung Hoa, Tìm hiểu một số thành tố mất nghĩa trong các từ ghép qua cuốn "Dictionarivm Anamittievm, Lusitanvm et Latinvm" của A. de Rhodes, số phụ T/c Ngôn ngữ, số 2,1982.

24.Lê Trung Hoa, Hiện tượng đồng hoá trong một số từ ngữ song tiết tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, số 4,2000.

25.Nguyễn Quang Hồng, Âm tiết và loại hình ngôn ngữ, Nxb KHXH,H., 1994.

26.Trần Trọng Kim-Bùi Kỷ-Phạm Duy Khiêm, Việt Nam văn phạm, Tân Việt.

27. Lưu Vân Lăng, Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt trên quan điểm ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân, T/c Ngôn ngữ, số 3, 1970.

28.Hồ Lê, Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại, Nxb KHXH,H., 1976.

29. Hồ Lê, Về sự phân loại từ ghép song song trong tiếng Việt hiện đại, T/c Ngôn ngữ, số 1, 1973.

30.Lê Văn Lý, Cách thức cấu tạo và tổ hợp của từ ngữ Việt Nam, trong cuốn "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ", tập 2, Nxb KHXH,H., 1981.

31.Lê Phương Nga, Về khái niệm từ đơn, từ ghép, từ láy được dạy ở tiểu học, T/c Giáo dục tiểu học, số 2,1996.

32.Vũ Đức Nghiệu, Về hiện tượng tương tự của từ vựng tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, số 1,1990.

33.Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb KHXH,H., 1985.

34.Đái Xuân Ninh, Hoạt động của từ tiếng Việt, Nxb KHXH,H., 1978.

35.Hoàng Phê, Hoàng Văn Hành, Đào Thản, Sổ tay dùng từ, H., 1980.

36. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 2000 và  2010.

37.Nguyễn Anh Quế, Giáo trình lí thuyết tiếng Việt,Trường ĐHTH HN, H., 1976.

38.Hữu Quỳnh, Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo Dục, H., 1980.

39.Rhodes A. de. - Từ điển Annam - Lusitan - Latinh, Nxb KHXH, H., 1991.

40.Nguyễn Kim Thản, Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, Nxb KH,H., 1963.

41.Bùi Đức Tịnh, Việt Nam văn phạm, SG.

42.Tomita Kinji, Một khảo sát về hệ thống sản sinh từ vựng trong tiếng Việt nhằm góp phần nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, số 1,1999.

43.Nguyễn Đức Tồn, Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy- học từ ngữ  tiếng Việt trong nhà trường, Nxb ĐHQG, H., 2003.

44.Nguyễn Đức Tồn, Cần phân biệt hai bình diện nhận thức và bản thể trong nghiên cứu ngôn ngữ học, T/c Ngôn ngữ, số 11, 2003.

45.Nguyễn Đức Tồn, Từ đồng nghĩa tiếng Việt, NXH KHXH, H., 2006

46.Nguyễn Đức Tồn, Đặc trưng văn hoá dân tộc của ngôn ngữ và tư duy,Nxb Từ điển Bách khoa, H., 2010.

47.Nguyễn Văn Tu, Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo Dục, H., 1968.

48.Hoàng Tuệ, Về những từ gọi là “từ láy” trong tiếng Việt, T/c Ngôn ngữ, số 3, 1978.

49.Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb KHXH, H., 1983(tái bản năm 2000). tr. 56-57

50.Xtepanov Ju. S, Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương, Nxb ĐH & THCN, H., 1977.

 

 

 

II. Tiếng Anh

51.Asher R. E., The Encyclopedia of language and linguistics, Pergamon, Press, Oxford, New York, Seoul, tokyo, 1994.

52.Lyons J., Introduction to theorical linguistics, London, 1972.

53.Emeneau M.B [Studies in vietnamese grammar, University of California]

 

 

 

 III. Tiếng Nga

54.Маркс К. Энгельс Ленин В.И. О диалектическом материализме. М.٫ 1968.

55.Àõìàíîâà Î.Ñ. Ñëâàðü ëèíãâèñòè÷åñêèõ òåðìèíîâ , M.,1966

56.Будагов П. А.  Введение в наукy о языке, М., 1958.

57. Касевич В.Б. Элементы общей лингвистики, М., 1977.

58.Реформатский А. А. Введение в языкознание, М., 1960.

 


 

 

 

 

 

         

 

 

 

Print

Gửi bình luận của bạn

Họ và tên (*) Email
Mã bảo vệ (*)
Nội dung (*)

Xem lời bình

Trang chủ | Giới thiệu | Thông báo | Tin tức | Chương trình | Dạy và học tiếng | Văn hóa & Ngôn ngữ | Thư mục chọn lọc | Giải trí | DV | Thư viện ảnh | Liên hệ | Diễn đàn