Chủ nhật, 31/08/2014 12:25

Về các phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt: Nhìn từ góc độ nhận thức và bản thể

 

VỀ CÁC  PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO TỪ  TRONG TIẾNG VIỆT

            NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NHẬN THỨC VÀ BẢN THỂ                                                                                  

                                                                                       

                                                                                        GS.TS Nguyễn Đức Tồn

 

 

 

1.     Phương thức cấu tạo từ là “cách thức mà ngôn ngữ học tác động vào hình vị để cho ta các từ”[6,tr.25]. Theo Đỗ Hữu Châu, “tiếng Việt sử dụng ba phương thức sau đây: từ hoá hình vị, ghép hình vị và láy hình vị”           [6, tr.25]. Trong số 3 phương thức cấu tạo từ trong tiếng Việt nêu trên, phương thức ghép được tất cả các nhà nghiên cứu Việt ngữ học ở trong và ngoài nước thừa nhận, không có ai nghi ngờ (xem [2,tr.43,51,65,73,359];[4,tr.17,22];[6,tr.51,52];[7,tr.198,201];[9,tr.4,12];[10,tr.173,174];[14,tr.73];[26,tr.15];[27,tr.59];[28,tr.7,17,18,90, 300];29,tr.25];[30,tr.56,61];[34,tr.164,168];[37,tr.6];[38,tr.13,14];[40,tr.92];[41,tr.18,19];[47,tr.42]. Quan điểm của chúng tôi cũng như vậy.

 

    Riêng phương thức được gọi là “từ hoá hình vị” là phương thức được giáo sư  Đỗ Hữu Châu đưa ra đầu tiên và định nghĩa: “Từ hoá hình vị là phương thức tạo từ tác động vào bản thân một hình vị làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó. Những từ như: nhà, xe, áo, người, phanh, mì chính, lốp(xe đạp) là những từ hình thành do sự từ hoá các hình vị nhà, xe, áo, người, phanh, mì chính, v.v…” [6,tr.25]. Sau này giáo sư Hoàng Văn Hành đã tiếp thu ý kiến của giáo sư Đỗ Hữu Châu và định nghĩa: “ Từ hoá hình vị là quá trình cấu tạo từ mà trong đó hình vị được cấp những đặc trưng nào đó về ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp theo những quy tắc nhất định để thành từ đơn”[20,tr.21]. Ngoài ra hầu như không còn tác giả có tên tuổi nào khác ở trong và ngoài nước đề cập đến phương thức cấu tạo các từ đơn trong tiếng Việt, nghĩa là họ đã coi các từ do một âm tiết tạo thành là mặc nhiên, không cần phải bàn đến phương thức cấu tạo của chúng. Đối với  các tác giả có quan điểm cho rằng trong tiếng Việt, mỗi âm tiết tạo thành một từ, chẳng hạn, M.B. Emeneau [53] và sau này là Nguyễn Thiện Giáp[15, tr.69], thì vấn đề phương thức cấu tạo từ không được đặt ra.

 

          Theo quan điểm của chúng tôi, cái gọi là “phương thức từ hoá hình vị” được giáo sư Đỗ Hữu Châu đưa ra đối với các từ đơn tiết trong tiếng Việt chỉ là mĩ từ cốt để có đủ các phương thức cấu tạo cho các loại từ được tác giả thừa nhận trong tiếng Việt mà thôi: từ đơn, từ ghép, từ láy. Chẳng lẽ có từ đơn mà lại không có phương thức tạo ra!? Thực ra, theo nội hàm khái niệm được biểu hiện bằng các thuật ngữ từhình vị trong ngôn ngữ học phương Tây, bản thân một âm tiết nếu đã mang đầy đủ ý nghĩa từ vựng nên có thể sử dụng tự do trong câu và có thể làm thành phần câu thì tự nó đã có phẩm chất của một từ rồi mà chẳng cần phương thức nào tạo ra. Đó là phẩm chất từ của loại âm tiết này. Trong tiếng Việt, ngoài loại âm tiết có phẩm chất của từ như thế, còn có loại âm tiết chỉ mang phẩm chất của hình vị .

 

          Theo chúng tôi, trong trường hợp này, cần chú ý phân biệt hai bình diện nhận thức và bản thể của âm tiết tiếng Việt. Cụ thể là khả năng có thể hành chức một mình như một từ hay khả năng chỉ có thể hành chức như một hình vị  - đó là những thuộc tính thuộc bản thể của âm tiết tiếng Việt. Còn việc coi âm tiết đó là từ hay hình vị hoàn toàn thuộc nhận thức của cá nhân nhà nghiên cứu. Bằng chứng là cùng một âm tiết, có người cho là từ, có người chỉ cho là hình vị. Chẳng hạn như các âm tiết là các từ Việt cổ nay không còn sử dụng độc lập (như chiền trong chùa chiền, han trong hỏi han…), hay các âm tiết Hán Việt, các âm tiết Ấn Âu trong tiếng Việt không hành chức độc lập, tự do trong câu, được tuyệt đại đa số các nhà nghiên cứu chỉ coi là hình vị, còn M.B. Emeneau và Nguyễn Thiện Giáp lại coi là từ. Đặc biệt là các kết hợp song tiết trong tiếng Việt kiểu như: hoa hồng, sân bay, áo dài, tai hồng, đường băng, máy bay, v.v…nhiều người coi là từ ghép, song nhiều người khác lại cho đó là các tổ hợp cố định…Vả lại trong thực tế truyền thống ngữ văn cổ điển của Việt Nam cũng không hề có cái tên gọi hay khái niệm "từ" mà chỉ có các tên gọi hay khái niệm "tiếng" hoặc "tự"(chữ) mà thôi, mặc dù các thực thể đơn vị  ngôn ngữ  ấy vẫn tồn tại từ xưa đến giờ..Vả lại, khi một âm tiết nào đó đã có thuộc tính bản thể là từ thì người ta cũng chẳng cần phải sử dụng phương thức tạo từ nào đó tác động vào bản thân âm tiết - hình vị ấy để “làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó”[6,tr.25], hay cũng không cần (trong trường hợp âm tiết đã vốn là từ) và cũng không thể (trong trường hợp âm tiết chỉ là hình vị, không thể là từ) “cấp (cho âm tiết là hình vị - NĐT chú thêm) những đặc trưng nào đó về ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp theo những quy tắc nhất định để thành từ đơn”[20,tr.21].

 

Thiết nghĩ ở đây cũng cần phải nhớ lại luận điểm triết học sau : “Thuộc tính của sự vật chỉ được bộc lộ trong quan hệ với sự vật khác chứ không phải được  sinh ra hay được tạo ra trong quan hệ với sự vật khác”! Điều này có nghĩa là khi một âm tiết vốn đã có thuộc tính bản thể là từ thì nó sẽ bộc lộ thuộc tính ấy trong quan hệ với các từ khác khi được sử dụng, nghĩa là nó có thể tự do kết hợp với các từ khác và làm thành phần nào đó trong câu tuỳ theo nội dung ý nghĩa và mục đích giao tiếp, chứ không phải là khi âm tiết này nằm trong quan hệ khi kết hợp với các âm tiết khác trong câu thì nó mới có, mới “được cấp cho” phẩm chất là một từ!

Do đó có thể khẳng định trong số các phương thức cấu tạo từ của tiếng Việt không hề có cái gọi là “phương thức từ hoá hình vị”!

 

 

2. Còn đối với cái gọi là “phương thức cấu  tạo từ  láy” thì sao? Trong tiếng Việt có hay không các “từ láy” và cái phương thức cấu tạo từ này?

 Để tiện theo dõi, chúng tôi xin liệt kê ra đây tất cả các loại kết hợp âm tiết có liên quan đến hiện tượng xưa nay được các nhà Việt ngữ học coi là “từ láy”, để từ đó chứng minh tất cả chúng đều không phải là từ láy thực thụ trong tiếng Việt.

a) xinh   ®      xinh xinh;    xanh          ®      xanh xanh…

b) đỏ     ®      đo đỏ;           nhẹ  ®     nhè nhẹ;  con  ®  cỏn con…

c) ắp     ®      ăm ắp;        sát     ®      san sát…

d) luôn luôn, dần dần, thường thường…

e) rầm rầm, oang oang, đoàng đoàng,  choang choang…

 g)  vỗ về;  lúng túng, nhỏ nhắn, luẩn quẩn, tủm tỉm,        loanh quanh,

mũm mĩm, lệnh khệnh…    

 

Các trường hợp từ a) đến e) xưa nay được các nhà nghiên cứu - dù có chủ trương phân biệt dạng láy của từ với từ láy hay không - đều coi là từ láy toàn bộ, còn các trường hợp ở g) là từ láy bộ phận.

Chúng ta sẽ lần lượt phân tích cụ thể từng trường hợp.

 Trước hết là các trường hợp: a) xinh xinh, xanh xanh…;  b) đo đỏ, nhè nhẹ...; c) ăm ắp, san sát, …: đây đích thị chỉ là những dạng láy của một yếu tố gốc vốn là tính từ. Vì vậy, theo chúng tôi, chỉ có tính từ mới có dạng láy. Còn danh từ và động từ thì chỉ có dạng lặp (sẽ được bàn đến ở trường hợp d) sau đây). Trong các dạng láy này thì chỉ có yếu tố gốc mang trọng âm, còn yếu tố láy không mang trọng âm. Mô hình trọng âm của những dạng láy trên là: xinh xinh (01), đo đỏ (01), ăm ắp (01), v.v...

 

Ý nghĩa của các dạng láy này có thể nêu thành quy luật, và do đó không cần phải đưa chúng thành mục từ riêng trong từ điển để giải thích. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học(Hoàng Phê chủ biên)[36], các dạng láy được để trong mục từ của yếu tố gốc, sau dấu “//” và được giải thích là “ý tăng cường” hay "ý mức độ nhiêù" hoặc “ý giảm nhẹ”, ví dụ: hút : "Sâu, xa đến mức không thể nhìn thấy được cho đến tận cùng. Hang sâu hút tối mù // Láy: hun hút(ý mức độ nhiều)" [36, 2010, tr.608].

 

 Có thể phân các dạng láy này thành hai trường hợp:

Thứ nhất: Nếu dạng láy chứa yếu tố gốc là tính từ có ý nghĩa chỉ mức độ bình thường, trung tính (nghĩa là không cao, không thấp…), thì sự láy lại hoàn toàn theo mô hình trọng âm (01) sẽ tạo dạng láy có ý nghĩa "chỉ mức độ hoặc cường độ thấp với thái độ của người nói là dè dặt, không khẳng định chắc chắn". Xinh xinh có nghĩa là "hơi có vẻ như là xinh", tương tự như vậy: trăng trắng có nghĩa "hơi có vẻ như là trắng".

 

Thứ hai, nếu dạng láy chứa  yếu tố gốc là tính từ có ý nghĩa chỉ mức độ cao (hoặc nhiều) thì sự láy lại hoàn toàn theo mô hình trọng âm (01) sẽ tạo thành dạng láy có ý nghĩa "chỉ mức độ cao, hoặc nhiều với thái độ của người nói là khẳng định chắc chắn". Chẳng hạn: Thẳm vốn có nghĩa "sâu hay xa đến mức hút tầm mắt, nhìn như không thấy đâu là cùng, là tận" [36, 2000,tr.919]. Do đó khi láy hoàn toàn: thăm thẳm có ý nghĩa tăng cường mức độ và người nói có thái độ khẳng định chắc chắn. Ví dụ:

             Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

             Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

             Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

             Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

(Quang Dũng - Tây Tiến)

Hoặc ví dụ  từ hút và dạng láy của nó là hun hút vừa được dẫn trên đây.

 

Trường hợp d): luôn luôn, dần dần, thường thường… và cả các trường hợp như  người người, ngành ngành, gật gật, cười cười, nói nói, v.v… là dạng lặp của từ đơn, bởi vì cả hai yếu tố đều mang trọng âm (11) và ý nghĩa cả hai yếu tố hoàn toàn như nhau. Đây vốn được coi là phương thức lặp ngữ pháp để biểu hiện ý nghĩa "nhiều"(đối với danh từ), "lặp đi lặp lại có tính chất chu kì", "liên tục"(đối với vị từ, gồm động từ và tính từ). Trong các ngôn ngữ khác, phương thức lặp cũng  dùng để biểu hiện ý nghĩa ngữ pháp số nhiều, ví dụ:

Tiếng Ilakano (ở Philipin): talon "cánh đồng"- talon-talon "những cánh đồng"

Tiếng Mã Lai: orang "một người"  -   orang-orang " những người"

Trong tiếng Nga, phương thức lặp căn tố có thể được dùng để biểu hiện ý nghĩa so sánh cấp tuyệt đối của tính từ: добрый "tốt bụng", добрый-добрый "tốt bụng nhất"; большoй "to lớn", большoй-большoй "to lớn nhất".

Trường hợp e): rầm rầm, oang oang, đoàng đoàng, choang choang… v.v…thì đây là những từ mô phỏng âm thanh. Còn có thể liệt kê vào đây các từ mô phỏng âm thanh khác có dạng  như rì rào, thì thầm, rì rầm, xào  xạc ... Như vậy các từ mô phỏng âm thanh trong tiếng Việt có 2 loại nhỏ: a) hai thành tố giống nhau hoàn toàn về âm thanh và ý nghĩa (cùng mô phỏng âm thanh giống nhau: rầm rầm, oang oang, đoàng đoàng, choang choang. Mô hình trọng âm của chúng là (11). Bởi vậy đây cũng là dạng lặp để chỉ "âm thanh liên tiếp); b) hai thành tố chỉ giống nhau phụ âm đầu, nguyên âm khác nhau nhưng không phải là những nguyên âm có cùng độ mở như ở các từ láy ( mà xưa nay các nhà nghiên cứu thường công nhận) : rì rào, thì thầm, rì rầm, đùng đoàng, xào xạc, v.v...   Đây là những đơn vị gồm hai thành tố ghép lại, mỗi thành tố mô phỏng một âm thanh trầm bổng, cao thấp khác nhau. Cả hai thành tố đều mang trọng âm (11). Do đó phải coi chúng là từ ghép đẳng lập (chứ không phải là từ láy), dùng để mô phỏng âm thanh trầm bổng, cao thấp khác nhau, lúc rõ, lúc không. Chứng cớ là nhiều đơn vị trong số chúng cho phép có thể đảo trật tự các thành tố cấu tạo của mình: thì thầm-thầm thì, rì rầm-rầm rì, xào xạc - xạc xào,…

Trường hợp g) xưa nay thường được các nhà nghiên cứu coi là từ láy thực sự.  Do vậy chúng tôi tập trung vào chứng minh tính chất “phi từ láy” của các đơn vị này bằng cách chỉ ra nguồn gốc được tạo ra bằng phương thức ghép của chúng.

Các nhà nghiên cứu xưa nay công nhận rằng đối với từ láy âm thì phụ âm đầu của hai âm tiết thành tố là như nhau và các nguyên âm làm thành âm chính của chúng “luôn có sự luân phiên giữa những nguyên âm khác dòng và phổ biến nhất là sự luân phiên giữa những cặp nguyên âm cùng độ mở”[15,tr.90]. Cụ thể như sau:

 

    Dòng

Độ mở

trước

giữa

sau

hẹp

i

ư

u

 

iê / ia

ươ / ưa

uô / ua

vừa

ê

ơ / â

ô

rộng

e

a / ă

o

 

Ví dụ:

             + [i] - [u]: tủm tỉm, mũm mĩm, hú hí...

             + [ô] - [ê]: ngô nghê, hổn hển, xộc xệch...

             + [o] - [e]: cò kè, ho he, hó hé, ngót nghét...

 

Thực ra, như chúng tôi đã chứng minh, trong tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Việt cổ, có phương thức chuyển âm hay biến âm để cấu tạo ra ổ gồm các từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa [43,tr.204]; [45,tr.260-261]. Vì vậy, các đơn vị được gọi là “ từ láy âm”, trong đó hai âm tiết có sự luân phiên  giữa những cặp nguyên âm khác dòng cùng độ mở, rất có thể chỉ là sản phẩm của hiện tượng biến âm để tạo từ ấy mà thôi. Chẳng hạn, theo Từ điển tiếng Việt, ho hehó hé có nghĩa như nhau[36, 2010, tr.574 và 575]. Cả hođều có nét nghĩa gần nhau "tỏ ra cho người khác thấy bằng tiếng"ho", hoặc lời nói hay  cử chỉ…". Có thể phỏng đoán ho he hó hé  là do ho hé mà ra trên cơ sở đồng hoá để có thanh điệu như nhau.

 

Đối với từ láy vần thì phụ âm đầu của hai âm tiết thành tố là khác nhau, phần vần giống nhau.

Với quan điểm về từ láy như vậy, các trường hợp như những ví dụ dưới đây đã được các nhà nghiên cứu coi là từ láy âm . Song theo sự chứng minh của chúng tôi thì tất cả chúng đều không phải là những từ láy âm, mà thực ra đó là những từ ghép gồm các âm tiết  hoặc do có quan hệ ngữ âm ngẫu nhiên hoặc do quy luật đồng hóa ngữ âm, hoặc do biến thể ngữ âm …  mà có. Ví dụ:

+ lung lay (lung có thể do rung mà ra nhờ đồng hóa ngữ âm).

+ thướt tha (là từ ghép do có thể đảo được thành tha thướt)

Trong số 112 trường hợp từ ghép song tiết do đồng hóa ngữ âm nên có dạng giả từ láy âm mà Lê Trung Hoa nêu ở [24] thì các nguyên âm khác nhau đều không phải là có cùng độ mở. Đây thường là những kết hợp gồm 2 âm tiết đồng nghĩa có phụ âm đầu vốn không có quan hệ ngữ âm, song khi ghép với nhau chúng đồng hoá lẫn nhau, khiến các kết hợp song tiết này trở nên có hình thức giống như từ láy âm, ví dụ:

+ nguôi ngoai vốn do nguôi hoai mà ra;

+ đồn đại được biến đổi từ đồn đãi mà ra (do đồng hóa ngữ âm, đãi cũng có nghĩa là "đồn") [24,tr.32] ;

+ mê mết thực ra là từ ghép, do mê mệt mà ra (kết quả của hiện tượng đồng hóa ngữ âm: thanh điệu biến đổi cho cùng âm vực).

 

 

 ( còn nữa)

 

 

Phần 2:  http://clt.edu.vn/bai-viet/c45/i52/ve-cac-phuong-thuc-cau-tao-tu-trong-tieng-viet-nhin-tu-goc-do-nhan-thuc-va-ban-the-phan-2-.html

 

Phần 3:  http://clt.edu.vn/bai-viet/c45/i53/ve-cac-phuong-thuc-cau-tao-tu-trong-tieng-viet-nhin-tu-goc-do-nhan-thuc-va-ban-the-phan-3-.html

 

Print

Gửi bình luận của bạn

Họ và tên (*) Email
Mã bảo vệ (*)
Nội dung (*)

Xem lời bình

Trang chủ | Giới thiệu | Thông báo | Tin tức | Chương trình | Dạy và học tiếng | Văn hóa & Ngôn ngữ | Thư mục chọn lọc | Giải trí | DV | Thư viện ảnh | Liên hệ | Diễn đàn